Những sửa đổi, bổ sung của Nghị định số 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 so với Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất

Trước tình hình phức tạp và gia tăng sự lạm dụng các chất ma túy tổng hợp mới xuất hiện ở hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ, trong các phiên họp thường niên của Ủy ban kiểm soát ma túy - Liên Hợp quốc, các nước thành viên đã thống nhất đưa một số chất ma túy tổng hợp và tiền chất mới vào Danh mục kiểm soát quốc tế. Với trách nhiệm là quốc gia thành viên tham gia 03 Công ước quốc tế về phòng, chống ma túy của Liên Hợp quốc (Công ước 1961, 1971, 1988); Việt Nam có nghĩa vụ pháp lý phải kiểm soát các chất này. Mặt khác, ở trong nước, tình hình ma túy và tệ nạn ma túy cũng có những diễn biến phức tạp, các chất ma túy tổng hợp ngày càng bị lạm dụng và có chiều hướng gia tăng. Tại một số địa bàn trọng điểm ở nước ta đã xuất hiện nhiều chất gây nghiện, chất hướng thần mới có tác hại như các chất ma túy, nhưng chưa được quy định trong danh mục kiểm soát, dẫn đến việc thiếu căn cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính, mặc dù chúng đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

17/07/2020 | Article Rating

Trước tình hình đó, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy đã phối hợp với các đơn vị, địa phương trong và ngoài ngành Công an, tham mưu cho lãnh đạo Bộ Công an, báo cáo Chính phủ ban hành Nghị định số 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, để kịp thời bổ sung vào danh mục quản lý đã được kiểm soát quốc tế theo 03 Công ước của Liên hợp quốc và những chất gây nghiện, chất hướng thần có tác dụng tương tự chất ma túy đang bị lạm dụng tại Việt Nam và đã được cơ quan chuyên môn của nước ta (Viện khoa học, Bộ Công an) giám định và đề xuất bổ sung, nhằm đạp ứng yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh với tệ nạn ma túy.

Những sửa đổi, bổ sung trong Nghị định số 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 so với Nghị định số 73/2020/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ, gồm:

1. Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Danh mục các chất ma túy và tiền chất

1. Chuyển chất Thuốc phiện và các chế phẩm thuốc phiện từ Danh mục IID (số thứ tự 398) sang Danh mục ID (mang số thứ tự 47) và bổ sung ghi chú như sau:

* Trừ trường hợp ethyl este của acid béo iod hóa trong dầu hạt thuốc phiện mà không còn chứa chất ma túy từ thuốc phiện.

2. Bổ sung 26 chất ma túy vào danh mục IIC (mang số thứ tự từ 397 đến 422 trong danh mục IIC),  Nghị định số 73/2018/NĐ-CP của Chính phủ, trong đó:

- 17 chất mới được bổ sung vào danh mục kiểm soát theo các Công ước quốc tế năm 1961 và 1971, bao gồm :

  1. 4-fluoramphetamine,
  2. 4-fluoroisobutyrfentanyl,
  3. Acryloylfentanyl,
  4. Carfentanil,
  5. Crotonylfentanyl,
  6. Cyclopropylfentanyl,
  7. N‐Ethylnorpentylone,
  8. Methoxyacetylfentanyl,
  9. Ocfentanil,
  10. Orthofluorofentanyl,
  11. Parafluorobutyrylfentanyl,
  12. Tetrahydrofuranylfentanyl.
  13. 4-CMC (4-chloromethcathinone; clefedrone),
  14.  N-ethylhexedrone (NEH, Hexen, Ethyl-Hex),
  15. Alpha-PHP (PV-7, α-pyrrolidinohexanophenone).
  16. Valerylfentanyl.
  17. DOC (2,5-Dimethoxy-4-chloroamfetamine).

- 09 chất gây nghiện, chất hướng thần được phát hiện thông qua công tác đấu tranh phòng, chống ma túy, đã được Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an giám định và đề xuất bổ sung:

  1. 2-fluorodeschloroketamine (Fluoroketamine),
  2. 4F-MDMB-BINACA (4F-MDMB-BUTINACA),
  3. 5F-MDMB-PICA (5F-MDMB-2201, MDMB-2201),
  4. Acetylpsilocine (Psilacetine, 4-AcO DMT),
  5. Benzylone,
  6. Eutylone (bk-EBDB; N-Ethylbutylone).
  7. MMB-022 (MMB-4en-PICA),
  8. MMB-FUBICA (AMB-FUBICA),
  9. Propylphenidate (PPH),.

1.3. Bỏ 03 chất ma túy (có số thứ tự 206, 329, 330) trong Danh mục IIC, vì trùng lặp với 03 chất (có số thứ tự 245, 328, 203) cùng trong Danh mục IIC và được giữ nguyên tên của 03 chất có số thứ tự 245, 328, 203; cụ thể:

 206. AMB-FUBINACA (trùng với chất 245. FUB-AMB)

 329. MMB-PICA (trùng với chất 328. MMB-18)

 330. MMB-PINACA (trùng với chất 203. AMB).

Các số thứ tự 206, 329, 330 tạm thời để trống.

1.4. Bổ sung mã CAS của 40 chất trong Danh mục IIC, được sắp xếp theo số thứ tự trong bảng IIC của Nghị định 73/2018/NĐ-CP.

1.5. Sửa đổi số thứ tự Danh mục IID: sau khi bổ sung 26 chất, từ số 397 đến 422 và chuyển chất 398 về danh mục ID, tiếp theo là Lá Coca mang số thứ tự 423, trong danh mục IID.

1.6. Bổ sung 02 chất ma túy: Etizolam và Flualprazolam vào Danh mục III (mang số thứ tự tiếp theo lần lượt là 72 và 73 trong danh mục này).

1.7. Bổ sung 13 tiền chất vào Danh mục IVA: Các tiền chất thiết yếu, tham gia vào cấu trúc chất ma túy, trong đó:

- 04 tiền chất mới được Liên hợp quốc bổ sung vào Bảng I của Công ước năm 1988 về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần, gồm:

  1. 3,4-MDP-2P-methylglycidate  (PMK glycidate)
  2. 3,4-MDP-2P-methylglycidic acid (PMK glycidic acid)
  3. Alpha-phenylacetoacetamide (APAA)
  4. Alpha-phenylacetoacetate (MAPA).
  • 09 tiền chất được Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an đề xuất bổ sung dựa trên thực tiễn công tác đấu tranh các chuyên án về sản xuất trái phép ma túy tổng hợp tại Việt Nam, thời gian qua, gồm:
  1. 1-phenyl-1-propanone
  2. Alpha- bromo-(o-chlorophenyl)-cyclopentyl ketone
  3. Cyclopentyl bromide
  4. Cyclopentyl chloride
  5. Cyclopentyl magnesium bromide
  6. Hydroxylimine
  7. o-Chlorobenzonitrile
  8. o-Bromobenzonitrile
  9. o-Chlorophenyl cyclopentyl ketone.

13 tiền chất này, được đánh số thứ tự từ 27 đến 39, trong Danh mục IVB. Trong đó, 06 chất có các số thứ tự 31, 32, 33, 36, 36, 39 là những tiền chất có ứng dụng trong công nghiệp, giao Bộ Công thương quản lý; 07 chất có các số thứ tự 27, 28, 29, 30 34, 35, 38 là những tiền chất trung gian chuyển hóa của các tiền chất/chất ma túy, chưa có ứng dụng hợp pháp nào được ghi nhận, giao Bộ Công an quản lý.

1.8. Đánh lại số thứ tự các tiền chất thuộc danh mục IVB, nối tiếp số thứ tự của danh mục IVA , từ số 40 đến số 57 (thay cho từ 27 đến 44 trước đây).

2. Điều 2. Hiệu lực thi hành: quy định thêm thời gian chuyển tiếp sau khi Nghị định có hiệu lực để các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh 13 tiền chất mới được bổ sung, thực hiện các quy định về quản lý tiền chất kể từ ngày 01/8/2020.

Như vậy, đến thời điểm hiện tại, với Nghị định số 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018, Chính phủ Việt nam đã đưa vào Danh mục quản lý 540 chất ma túy và 57 tiền chất (so với Nghị định số 73/2018/NĐ-CP tăng 25 chất ma túy và 13 tiền chất), bao gồm:

- Danh mục I “Các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền”. Danh mục này quy định 47 chất ma túy và được chia thành 04 nhóm (IA: 16 chất, IB: 27 chất, IC: 01 chất, ID: 03 chất).

- Danh mục II “Các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền”. Danh mục này quy định 420 chất ma túy và được chia thành 04 nhóm (IIA: 87 chất, IIB: 15 chất, IIC: 317 chất, IID: 01 chất).

- Danh mục III “Các chất ma túy được dùng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền”. Danh mục này quy định 73 chất ma túy.

- Danh mục IV “Các tiền chất”. Danh mục này quy định 57 tiền chất và được chia thành 02 nhóm (IVA: Các tiền chất thiết yếu tham gia vào cấu trúc chất ma túy, gồm 39 chất và IVB: Các tiền chất là dung môi, chất xúc tác trong quá trình sản xuất chất ma túy, gồm 18 chất).

Trong số  tiền chất, Chính phủ giao:

+ Bộ Công thương quản lý 39 tiền chất;

+ Bộ Y tế quản lý 08 tiền chất;

+ Bộ Công an quản lý 10 tiền chất ./.

 

                                                                                                                                         Thượng tá, Ths Bùi Đức Thiêm

                                          Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy